Zalo
Tất cả bài viết
Bác Sĩ Công Nợ
Tàu container xuất khẩu rời cảng biển
Ảnh: Wolfgang Weiser, Pexels

Xuất khẩu sang Mỹ hoặc EU có nên mua bảo hiểm tín dụng không?

Doanh nghiệp xuất khẩu sang Mỹ hoặc EU nên xem xét mua bảo hiểm tín dụng thương mại (còn gọi là bảo hiểm khoản phải thu, hay bảo hiểm công nợ xuất khẩu) nếu phần lớn đơn hàng được thanh toán trả chậm và doanh thu tập trung vào một vài khách hàng hoặc một thị trường. Đây không phải câu trả lời đúng cho mọi trường hợp: doanh nghiệp có đơn hàng nhỏ, khách hàng đa dạng, thời hạn công nợ ngắn thì mức độ cần thiết sẽ khác hẳn. Theo IIB.com.vn, một đơn vị tư vấn bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam, thanh toán trả chậm hiện chiếm 60 đến 70% tổng giá trị xuất khẩu Việt Nam sang các thị trường lớn như Trung Quốc, EU và Mỹ (Nguồn: IIB.com.vn), nghĩa là phần lớn dòng tiền xuất khẩu đang phụ thuộc vào việc bên mua trả đúng hạn.

Rủi ro khi xuất khẩu sang Mỹ: thuế quan và tỷ trọng tập trung

Theo Coface, trong báo cáo Country Risk File Vietnam công bố năm 2025, Mỹ hiện chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, và mức thuế quan Mỹ áp lên hàng hoá Việt Nam được ghi nhận tăng từ mức tạm thời 10% vào tháng 4 năm 2025 lên 20% vào tháng 8 năm 2025 (Nguồn: Coface). Một thị trường chiếm gần một phần ba tổng xuất khẩu, cộng thêm biến động thuế quan, khiến rủi ro chậm thanh toán hoặc huỷ đơn hàng tăng lên vì biên lợi nhuận của bên mua tại Mỹ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi chi phí thuế.

Rủi ro khi xuất khẩu sang EU: trả chậm là chuẩn giao dịch phổ biến

Tại EU, giao dịch theo hình thức mở tài khoản (open account, tức trả chậm) phổ biến hơn thanh toán trước hoặc thư tín dụng. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới, dẫn lại bởi Allianz Trade, các công ty nước ngoài mua hàng nhiều hơn trung bình 40% khi được chào bán theo hình thức trả chậm so với thanh toán trước (Nguồn: Allianz Trade, dẫn WTO). Điều này giải thích vì sao nhiều doanh nghiệp Việt Nam buộc phải chào trả chậm để giữ khách EU, nhưng cũng tự đặt mình vào rủi ro khách không trả hoặc trả muộn.

Cần nói rõ một điểm còn thiếu: hiện chưa có số liệu insolvency (tỷ lệ doanh nghiệp phá sản) riêng cho thị trường Mỹ và EU năm 2025 được dùng trong bài này. Số liệu gần nhất tìm được là của khu vực châu Á: theo khảo sát Coface Asia Payment Survey quý 1 năm 2025, tỷ lệ doanh nghiệp báo cáo chậm thanh toán kéo dài vượt 2% doanh thu năm đã tăng lên 40%, so với 23% của năm 2023 (Nguồn: Coface). Khảo sát này thực hiện tại 9 thị trường châu Á Thái Bình Dương, không bao gồm Việt Nam và không phản ánh trực tiếp rủi ro tại Mỹ hoặc EU, nên chỉ nên coi là tín hiệu về xu hướng chậm thanh toán đang lan rộng, không phải bằng chứng trực tiếp. Doanh nghiệp cần số liệu chính xác cho Mỹ hoặc EU nên yêu cầu báo cáo rủi ro quốc gia cụ thể ngay trong quá trình làm hồ sơ với nhà bảo hiểm.

Kế toán đối chiếu hoá đơn xuất khẩu tại văn phòng Ảnh: SHVETS production, Pexels

Bao nhiêu phần trăm kim ngạch xuất khẩu Việt Nam đang là công nợ trả chậm?

Ngoài mức 60 đến 70% trả chậm nêu trên, IIB.com.vn cũng ghi nhận xuất khẩu Việt Nam đang tiến gần mốc 400 tỷ USD mỗi năm (Nguồn: IIB.com.vn). Quy mô kim ngạch này khiến việc chủ động bảo vệ dòng tiền không còn là lựa chọn phụ, mà gắn trực tiếp với khả năng doanh nghiệp duy trì hoạt động khi một vài khách hàng lớn gặp khó khăn tài chính.

Số liệu 60-70% và mốc 400 tỷ USD lấy từ IIB.com.vn, chưa rõ năm khảo sát cụ thể, cần kiểm lại nguồn gốc trước khi trích dẫn chính thức.

Khung quyết định: khi nào nên mua, khi nào chưa cần

Bốn tiêu chí sau giúp doanh nghiệp tự đánh giá mà không cần chờ báo cáo insolvency đầy đủ:

Tỷ trọng doanh thu tập trung vào một khách hàng hoặc một thị trường. Nếu một khách hàng Mỹ hoặc EU chiếm trên 20 đến 30% doanh thu xuất khẩu, một lần khách chậm trả hoặc mất khả năng thanh toán có thể ảnh hưởng trực tiếp đến dòng tiền toàn công ty.

Thời hạn công nợ đang áp dụng. Công nợ 30 ngày có rủi ro khác hẳn công nợ 90 hoặc 120 ngày. Thời hạn dài hơn nghĩa là khoảng thời gian doanh nghiệp phải tự chịu rủi ro trước khi biết chắc khách có trả hay không cũng dài hơn.

Có sử dụng khoản phải thu để vay ngân hàng hay không. Doanh nghiệp đang dùng hoá đơn xuất khẩu làm tài sản đảm bảo vay vốn thì một khoản nợ khó thu không chỉ ảnh hưởng dòng tiền, mà còn ảnh hưởng khả năng vay tiếp.

Đã từng gặp khách hàng chậm trả nghiêm trọng hoặc vỡ nợ chưa. Lịch sử từng bị ảnh hưởng là dấu hiệu rõ nhất cho thấy rủi ro không còn là giả định.

Doanh nghiệp đáp ứng từ hai tiêu chí trở lên nên coi bảo hiểm tín dụng thương mại là một phần của quản trị rủi ro tài chính, không phải chi phí tuỳ chọn.

Nên chọn nhà bảo hiểm tín dụng thương mại thế nào?

Mỗi nhà bảo hiểm đánh giá rủi ro quốc gia và ngành hàng theo cách riêng, nên mức phí và phạm vi bảo vệ cho cùng một lô hàng xuất khẩu có thể chênh lệch đáng kể giữa các nhà. Cách tiếp cận hợp lý là để nhiều nhà cùng chào phương án cho cùng một hồ sơ, sau đó so sánh điều khoản, mức khấu trừ và tỷ lệ bồi thường trước khi quyết định, thay vì chỉ làm việc với một nhà duy nhất. PinaX là nền tảng AI trung gian kết nối doanh nghiệp với nhà bảo hiểm, giúp so sánh và tối ưu chi phí bảo hiểm tại Việt Nam.

Đại diện doanh nghiệp ký hợp đồng xuất khẩu quốc tế Ảnh: cottonbro studio, Pexels

FAQ

Doanh nghiệp nhỏ xuất sang Mỹ hoặc EU có cần mua bảo hiểm tín dụng không, hay chỉ tập đoàn lớn mới cần? Không phải chỉ tập đoàn lớn. Doanh nghiệp nhỏ thường có ít khách hàng hơn, nên khi một khách hàng lớn tại Mỹ hoặc EU chậm trả, tỷ trọng ảnh hưởng lên doanh thu tổng thể còn cao hơn so với doanh nghiệp lớn có danh mục khách hàng phân tán. Quy mô nhỏ không đồng nghĩa rủi ro thấp hơn.

Bảo hiểm tín dụng thương mại khác gì bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu? Bảo hiểm hàng hoá bảo vệ giá trị lô hàng trong quá trình vận chuyển, đền bù khi hàng bị mất, hư hỏng trên đường đi. Bảo hiểm tín dụng thương mại bảo vệ khoản phải thu, tức khoản tiền bên mua nợ sau khi đã nhận hàng, đền bù khi bên mua mất khả năng thanh toán hoặc chậm trả kéo dài. Hai loại bảo vệ hai giai đoạn rủi ro khác nhau của cùng một giao dịch xuất khẩu.

Nếu khách hàng tại Mỹ hoặc EU là công ty lớn, có uy tín lâu năm thì còn cần mua bảo hiểm tín dụng không? Uy tín lâu năm giảm rủi ro nhưng không loại bỏ hoàn toàn, vì biến động thuế quan, lãi suất hoặc chuỗi cung ứng có thể ảnh hưởng đến cả những công ty lớn. Bảo hiểm tín dụng thương mại thường có giá trị nhất khi doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào một vài khách hàng, bất kể khách hàng đó lớn hay nhỏ.

Bảo hiểm tín dụng thương mại khác bao thanh toán (factoring) thế nào? Bao thanh toán là dịch vụ ứng trước tiền hàng dựa trên hoá đơn xuất khẩu, giúp doanh nghiệp có tiền ngay mà không cần chờ khách hàng thanh toán, nhưng đơn vị bao thanh toán không gánh rủi ro khách hàng mất khả năng trả nợ, doanh nghiệp vẫn có thể phải hoàn lại tiền nếu khách không trả. Bảo hiểm tín dụng thương mại thì ngược lại: không ứng tiền trước, nhưng đền bù một phần khoản nợ khi khách hàng thực sự mất khả năng thanh toán. Hai công cụ giải quyết hai nhu cầu khác nhau và nhiều doanh nghiệp dùng song song cả hai.

Mức phí bảo hiểm tín dụng thương mại tính dựa trên yếu tố gì? Mức phí thường phụ thuộc vào ngành hàng, thị trường xuất khẩu, thời hạn công nợ áp dụng và lịch sử thanh toán của khách hàng. Vì mỗi nhà bảo hiểm áp dụng công thức đánh giá riêng

Khám công nợ Zalo Email